Chàng sinh viên Sài Gòn thắp lửa cho một thế hệ

(Chinhphu.vn) - Giữa lòng Sài Gòn những năm 60 của thế kỷ XX, một bầu không khí chính trị sôi sục và những biến động không ngừng của lịch sử, có một người sinh viên trẻ tuổi đến từ kinh đô Huế đã dùng ngòi bút của mình để nhóm lên những “đốm than hồng”. Tám năm ròng rã, từ một chàng sinh viên bỡ ngỡ của Đại học Khoa học đến Chủ tịch Hiệp hội Báo chí Sinh viên Sài Gòn, Nguyễn Hữu Phước đã sống một cuộc đời sinh viên đầy nhiệt huyết, dùng báo chí làm vũ khí, góp phần tạo nên một chương rực lửa...
Chàng sinh viên Sài Gòn thắp lửa cho một thế hệ- Ảnh 1.

Ông Nguyễn Hữu Phước

 "Đốm than hồng" chờ ngày bùng cháy

Năm 1961, chàng thanh niên Nguyễn Hữu Phước, sau khi tốt nghiệp trường Quốc học Huế, đã ghi danh vào Đại học Khoa học Sài Gòn. Bước chân vào giảng đường cũng là lúc anh bắt đầu cuộc đời hoạt động cách mạng công khai. Sài Gòn lúc bấy giờ là một trung tâm chính trị phức tạp, nhưng trong các trường đại học, ngọn lửa yêu nước vẫn âm ỉ cháy. Anh nhanh chóng kết nối với phong trào sinh viên và được truyền lửa từ những người đi trước như các anh Nguyễn Điền, Lê Quang Vịnh, Phạm Chánh Trực.

Thời kỳ này, phong trào báo chí sinh viên ở Đại học Khoa học vừa trải qua một mất mát lớn khi nhóm nòng cốt tan rã; người ra chiến khu rồi hy sinh, người bị bắt, người phải đi Pháp để "lánh nạn". Chỉ còn lại anh Tôn Thất Quỳnh Tân là người bám trụ, nhưng anh chỉ là người ủng hộ chứ không tham gia tổ chức cách mạng. Nhận chỉ đạo từ Thành Đoàn qua các anh Phạm Chánh Trực và Lê Văn Tân (Ba Phú), nhiệm vụ của những người ở lại là phải duy trì phong trào như "một đốm than hồng đừng cho tắt, để chờ thời cơ bùng phát trở lại".

Cùng với Tôn Thất Quỳnh Tân và Trương Đình Vĩnh Long, Nguyễn Hữu Phước trở thành nòng cốt của ban báo chí nhà trường. Họ không chỉ duy trì việc xuất bản hai đặc san mỗi năm mà còn cho ra đời tờ "Tin tức sinh viên", một tờ báo in ronéo khổ 21x31cm với tiêu đề màu xanh nước biển, phát hành hai kỳ mỗi tháng. Đây được xem là tờ báo có số kỳ phát hành cao nhất trong phong trào báo chí sinh viên trước năm 1975, với trên 100 kỳ báo trong suốt ba năm.

Nội dung của tờ báo vừa gần gũi, thân thiết với đời sống sinh viên qua chuyên mục "Đời sinh viên", vừa là ngọn cờ tư tưởng cho các phong trào đấu tranh. Đặc biệt, tờ báo đã trở thành một phương tiện hữu hiệu, góp phần đưa phong trào đòi chuyển ngữ từ tiếng Pháp sang tiếng Việt ở trường Đại học Khoa học đến thành công.

Đằng sau những trang báo ấy là những đêm dài không ngủ. Anh và các đồng đội đã phải thức trắng để chuẩn bị, biên tập, thuê đánh máy, sửa lỗi và in ấn. Công việc nhọc nhằn, đôi khi phải bỏ cả việc học hành. Anh không bao giờ quên được sự hỗ trợ thầm lặng của anh Hòa, chủ tiệm "Ronéo Hòa", người đã hết lòng giúp đỡ, gần như không lấy lời và sẵn sàng cho sửa chữa bản thảo nhiều lần dù công việc vô cùng cực nhọc với máy đánh chữ cơ thời đó. Ký ức về những đêm làm báo, về những con người đã âm thầm tiếp sức cho "đốm than hồng" ấy đã trở thành một phần không thể phai mờ trong tâm trí anh.

Đến giữa năm 1964, khi các phong trào của quần chúng bùng nổ, lôi cuốn sinh viên tham gia, "đốm than hồng" mà họ gìn giữ đã thực sự bùng lên thành ngọn lửa. Anh và anh Quỳnh Tân bàn giao lại công tác báo chí cho thế hệ kế tiếp để chuyển sang một địa bàn hoạt động mới.

Ngọn bút vươn xa, hòa cùng các phong trào lớn

Rời Đại học Khoa học, Nguyễn Hữu Phước tiếp tục con đường học vấn và hoạt động tại Đại học Văn khoa (niên khóa 1964-1965) rồi Đại học Nông Lâm Súc (1965-1968). Tại mỗi nơi, anh đều để lại dấu ấn của một nhà báo sinh viên đầy nhiệt huyết. Nếu ở Văn khoa, anh chỉ kịp "xen vào để làm những hạt giống ban đầu" giữa một môi trường chính trị phức tạp, thì ở Nông Lâm Súc, công việc lại vô cùng thuận lợi.

Sinh viên Nông Lâm Súc đa số xuất thân từ gia đình khó khăn, gần gũi với nông dân, nên có tinh thần yêu nước và cảm tình với cách mạng rất cao. Cùng với những người bạn đồng chí hướng như Nguyễn Văn Thuận, Trần Quang Viễn, Phan Dũng, anh tiếp tục cho ra các đặc san và "Bản tin Sinh viên Nông Lâm Súc". Ngôi trường này, cùng với Dược khoa và Văn khoa, đã tạo thành một "Tam giác sắt", là căn cứ địa cho những cuộc biểu tình sôi động, và báo chí sinh viên chính là công cụ tư tưởng, cổ động hiệu quả.

Không chỉ gói gọn trong khuôn khổ nhà trường, ngòi bút của anh còn vươn ra, hòa mình vào các phong trào lớn của quần chúng. Năm 1965, khi Phong trào Dân tộc Tự quyết Việt Nam ra đời, anh Lê Văn Tân (Ba Phú) đã bố trí anh vào làm thư ký cho Ban chấp hành và biên tập viên cho tờ báo Tự Quyết của phong trào. Anh đã góp phần dự thảo "Tiếng gọi hòa bình của thanh niên sinh viên học sinh Việt Nam" và trực tiếp đánh máy bản quyết nghị lịch sử kêu gọi chấm dứt chiến tranh, đòi quyền tự quyết dân tộc. Cảm xúc khi gõ từng chữ của bản quyết nghị trên chiếc máy đánh chữ thô sơ đã trở thành một kỷ niệm không bao giờ quên trong đời anh.

Đầu năm 1966, anh lại được Thành Đoàn phân công tham gia Ban biên tập báo Hồn Trẻ. Đây là một tờ báo hợp pháp, được Thành Đoàn tiếp quản để làm công cụ tuyên truyền. Ban biên tập gồm 5 người: nhà báo Xuân Trang, Thảo Lam, Yên Hoài, Hữu Phước (với bút danh Tuyết Hữu) và bà Hoàng Lê Tuyết Ngọc (với bút danh Tâm Bích) – người sau này trở thành bạn đời của ông. Họ đã cùng nhau biến Hồn Trẻ thành một tờ báo có sức ảnh hưởng rộng rãi, quy tụ được đông đảo cộng tác viên là trí thức, nhà giáo, nhà văn và các nhà báo sinh viên.

Chàng sinh viên Sài Gòn thắp lửa cho một thế hệ- Ảnh 2.

Ông Nguyễn Hữu Phước trao tặng hiện vật cho Bảo tàng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

"Tờ báo tốc hành" cho đêm lịch sử

Cuối năm 1967, từ ý tưởng cần liên kết các tờ báo sinh viên lại với nhau, cùng với sự chỉ đạo của Thành Đoàn, Nguyễn Hữu Phước đã đứng ra tổ chức thành công Đại hội Báo chí Sinh viên Sài Gòn, quy tụ khoảng 60 nhà báo sinh viên tham dự. Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành và anh được tín nhiệm bầu làm Chủ tịch.

Trong bản tuyên bố của Hiệp hội, ông đã viết những dòng đầy khí thế:

"Tiếng nói sinh viên hiện nay, mặc dù mới thốt lên được một phần ý nghĩa, một phần sự thực trong nỗi hờn mất nước lớn lao, nhưng sinh viên đã can đảm lên tiếng dần những vấn đề chiến tranh, hòa bình, dân chủ… Mỗi bước tiến đều xây đắp bằng xương máu và tội tù của dân chúng, trong đó có sinh viên…".

Ngay trước Tết Mậu Thân 1968, Hiệp hội nhận một nhiệm vụ đột xuất và vô cùng cấp bách từ anh Ba Triết (Nguyễn Ngọc Phương): ra ngay một tờ báo in ty-pô để phục vụ cho "Đêm văn nghệ mừng Tết Quang Trung", với thời hạn hoàn thành chỉ trong một ngày một đêm.

Đó là một thử thách tưởng chừng bất khả thi. Một mình anh phải cáng đáng mọi việc: Vừa là chủ nhiệm, chủ bút, biên tập viên, vừa chạy nhà in, sửa bản vỗ (mo-rát), phát hành và thủ quỹ. Trong căn nhà nhỏ trên đường Phan Thanh Giản, anh đã thức trắng đêm để viết. Bài xã luận "Quang Trung rực lửa trong lòng chúng ta" được anh hoàn thành trong một mạch cảm xúc dâng trào. Để lấp đầy các trang báo, anh lượm lặt tin tức, rồi chợt nhớ đến tập kịch thơ "Tiếng gọi Lam Sơn" của nhà thơ Trần Quang Long và quyết định trích một đoạn dài.

Sáng hôm sau là một cuộc chạy đua với thời gian để tìm nhà in. Các nơi quen đều từ chối vì đã cận Tết. Cuối cùng, anh liều đến nhà in Phương Quỳnh của gia đình Giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ, một địa chỉ có thể bị an ninh theo dõi. May mắn, bà Dương Kỵ và các công nhân đã nhận lời và gác lại mọi việc để giúp anh. Đến chiều, 3.000 tờ báo nóng hổi ra lò. Anh vội vã chở chúng đến Trường Quốc gia Hành chánh, nơi đêm văn nghệ sắp diễn ra.

Những tờ báo được trao đến tay quần chúng như những tờ truyền đơn hợp pháp, hòa cùng tiếng trống hào hùng từ sân khấu rực sáng. Niềm vui vỡ òa khi anh hoàn thành nhiệm vụ. Chỉ vài ngày sau, khi tiếng súng của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân vang lên, anh mới hiểu hết ý nghĩa thiêng liêng của công việc mình vừa làm. "Tờ báo tốc hành" ấy chính là một lời hiệu triệu, một sự chuẩn bị tinh thần cho quần chúng ngay trước giờ G lịch sử.

Ba đêm không ngủ và những công trình nhân ái

Tết Mậu Thân 1968 đã biến nhà báo sinh viên Nguyễn Hữu Phước thành một chiến sĩ thực thụ trên đường phố Sài Gòn. Anh đã trải qua ba đêm liền không ngủ, ba đêm của chờ đợi, dũng cảm và yêu thương.

Đêm mồng 1, anh và 12 sinh viên, đa số là sinh viên Y khoa, trong đó có anh Trương Thìn, hồi hộp chờ nhận vũ khí để nổi dậy ở chợ Vườn Chuối nhưng cuộc giao liên bất thành. Sinh viên Y khoa ít biểu tình nhưng khi cần hy sinh thì họ sẵn sàng. Đêm mồng 2, anh được phân công đến bệnh viện Bình Dân tải thương. Đối diện với những vũng máu, với những thân thể bị bom đạn tàn phá đã khiến anh xúc động và viết nên bài thơ "Mấy tháng đời" ngay trong đêm đó. Bài thơ sau này đã được đăng trên tờ "Tay nắm tay che" của Ủy ban Cứu trợ đồng bào.

Sau những đêm kinh hoàng đó, anh cùng Tổng hội Sinh viên Sài Gòn lập nhiều trung tâm cứu trợ đồng bào bị nạn, trong đó có Trung tâm cứu trợ tại trường Tiểu học Phan Đình Phùng. Anh được giao làm Phó ban Nội vụ, được anh em gọi đùa là "ông nội". Tại đây, anh không chỉ lo chạy gạo, thuốc men mà còn làm công tác tuyên truyền, giác ngộ lý tưởng cho thanh niên. Một lần nữa, anh lại thể hiện tài năng tổ chức và sự tinh tế trong công tác quần chúng.

Anh đã cảm hóa được nhóm thanh niên "bụi đời", vốn bất cần và quậy phá, biến họ thành "đội vận tải và giữ gìn trật tự" tích cực của trung tâm. Cũng chính nhờ sự tin tưởng của họ mà anh đã bình tĩnh xử lý, bảo vệ an toàn cho một nữ cán bộ từ miền Bắc vào bị lạc, tránh khỏi sự nghi ngờ của những người xung quanh.

Cũng tại Trung tâm cứu trợ này, tình yêu giữa anh (Tuyết Hữu) và Tuyết Ngọc (người phụ trách giáo dục thiếu nhi) càng thêm sâu đậm. Bài thơ "Công trình" anh viết tặng chị chính là minh chứng cho một tình yêu nảy nở giữa khói lửa chiến tranh, một niềm vui hiếm hoi giữa những ngày tháng căng thẳng.

Tám năm làm báo sinh viên (1960-1968) của Nguyễn Hữu Phước khép lại sau Tết Mậu Thân. Ông tiếp tục các công tác khác cho cách mạng, bị địch bắt giam năm 1973 và cũng chính trong lần đó, gia đình buộc phải đốt toàn bộ chồng báo sinh viên quý giá mà ông lưu giữ. Những tờ báo vật chất có thể đã mất, nhưng ngọn lửa mà ông và thế hệ của mình đã thắp lên thì không bao giờ tắt. Nó đã trở thành một phần của lịch sử, một ký ức hào hùng về một thời sinh viên Sài Gòn đã sống, đã yêu và đã đấu tranh hết mình cho độc lập và hòa bình của dân tộc.

Chu Văn Khánh