Quy định mới nhất về thời hạn giải quyết hồ sơ hoàn thuế của cơ quan thuế

Nhiều người thắc mắc thời hạn giải quyết hồ sơ hoàn thuế của cơ quan thuế như thế nào theo quy định mới?

Khoản 2, Điều 31 Nghị định 252/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế (có hiệu lực từ ngày 1/7/2026) quy định thời hạn giải quyết hồ sơ hoàn thuế của cơ quan thuế như sau:

a) Đối với trường hợp thuộc diện hoàn thuế trước: chậm nhất là 6 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan thuế có thông báo tiếp nhận hồ sơ hoàn thuế, cơ quan thuế có quyết định hoàn thuế, thông báo số tiền đề nghị hoàn nhưng không được hoàn thuế (số tiền đề nghị hoàn nhưng không được hoàn, số tiền đề nghị hoàn nhưng không được hoàn và chuyển khấu trừ, số tiền đề nghị hoàn nhưng không được hoàn, không được khấu trừ), thông báo chuyển hồ sơ, số tiền đề nghị hoàn của người nộp thuế sang diện kiểm tra trước hoàn thuế theo quy định, thông báo hồ sơ, số tiền đề nghị hoàn chưa đủ điều kiện được hoàn thuế. Thời hạn giải quyết hồ sơ hoàn thuế không bao gồm thời gian người nộp thuế thực hiện giải trình, bổ sung thông tin tài liệu theo yêu cầu của cơ quan thuế;

Quy định mới nhất về thời hạn giải quyết hồ sơ hoàn thuế của cơ quan thuế - Ảnh 1.

Ảnh minh họa.

b) Đối với trường hợp thuộc diện kiểm tra trước hoàn thuế: chậm nhất là 10 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan thuế ban hành kết luận hoặc quyết định xử lý vi phạm sau khi kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế, cơ quan thuế có quyết định hoàn thuế, thông báo số tiền đề nghị hoàn nhưng không hoàn thuế (số tiền đề nghị hoàn nhưng không được hoàn, số tiền đề nghị hoàn nhưng không được hoàn và chuyển khấu trừ, số tiền đề nghị hoàn nhưng không được hoàn, không được khấu trừ), thông báo hồ sơ, số tiền đề nghị hoàn chưa đủ điều kiện được hoàn thuế. Thời hạn giải quyết hồ sơ hoàn thuế không bao gồm thời gian người nộp thuế thực hiện giải trình, bổ sung thông tin tài liệu theo yêu cầu của cơ quan thuế.

Như vậy, từ ngày 1/7/2026, thời hạn giải quyết hồ sơ hoàn thuế của cơ quan thuế được quy định như trên.

Bên cạnh đó, một trong những nội dung đáng chú ý tại Nghị định 252/2026/NĐ-CP là các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán trực tuyến (nếu có), tổ chức thẻ quốc tế có trách nhiệm định kỳ cung cấp thông tin tài khoản của người nộp thuế cho cơ quan thuế bằng phương thức điện tử.

Quy định này mở rộng phạm vi cung cấp dữ liệu, không chỉ áp dụng đối với hệ thống ngân hàng mà còn bao gồm các đơn vị cung ứng dịch vụ thanh toán và trung gian thanh toán.

Cụ thể, Nghị định 252/2026/NĐ-CP quy định rõ, các đơn vị trên phải cung cấp thông tin tài khoản thanh toán của người nộp thuế cho cơ quan thuế theo phương thức điện tử và định dạng dữ liệu do cơ quan thuế quy định.

Thông tin được cung cấp định kỳ hằng tháng, chậm nhất vào ngày 10 của tháng kế tiếp, gồm: tên chủ tài khoản; số hiệu tài khoản theo mã số thuế do cơ quan quản lý thuế cấp; nơi mở tài khoản, bao gồm cả chi nhánh mở tài khoản (nếu có); ngày mở tài khoản và ngày đóng tài khoản.

Ngoài ra, các tổ chức nêu trên còn có trách nhiệm cung cấp thông tin, dữ liệu liên quan đến giao dịch của người nộp thuế gồm số lượng, giá trị giao dịch, nội dung giao dịch, thông tin bên chuyển và bên nhận của giao dịch, thông tin về giao dịch trong và giao dịch xuyên biên giới của người nộp thuế; số dư tài khoản, số dư cuối kỳ, thu nhập phát sinh từ tài khoản và các thông tin khác theo quy định của Luật Quản lý thuế và phù hợp với pháp luật về các tổ chức tín dụng, pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân và pháp luật có liên quan phục vụ trực tiếp công tác quản lý thuế; thông tin, dữ liệu về chủ sở hữu hưởng lợi, người được ủy quyền, đồng chủ tài khoản, người thụ hưởng và các bên liên quan.

Cùng với đó, các tổ chức trên còn phải cung cấp thông tin về các giao dịch bất thường, đáng ngờ theo quy định của pháp luật về phòng chống rửa tiền; thông tin theo tiêu chuẩn báo cáo thông tin tài khoản tài chính của đối tượng không cư trú thuế tại Việt Nam và các báo cáo khác phù hợp với tiêu chuẩn của Diễn đàn toàn cầu về minh bạch và trao đổi thông tin cho mục đích thuế theo quy định.

Nghị định cũng nêu rõ tổ chức cung cấp thông tin, dữ liệu không phải chịu trách nhiệm về việc sử dụng thông tin, dữ liệu sau khi đã cung cấp đúng quy định của pháp luật. Việc khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu phải được ghi nhận, giám sát và kiểm tra theo quy định.

Minh Hoa (t/h theo Lao Động, TTXVN)