
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng tiếp ông Krisha Srinivasan, Giám đốc khu vực châu Á – Thái Bình Dương của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) - Ảnh: VGP/Đức Tuân
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng cho rằng, chuyến thăm và làm việc của ông Krisha Srinivasan diễn ra vào thời điểm quan trọng khi Việt Nam vừa hoàn tất kiến trúc chiến lược cho một giai đoạn phát triển mới.
Việt Nam luôn coi IMF là một đối tác tư vấn có uy tín và là người bạn đồng hành tin cậy, Phó Thủ tướng nêu rõ. Các báo cáo đánh giá, khuyến nghị của IMF đối với Việt Nam luôn được Chính phủ Việt Nam lắng nghe, xem xét, nghiên cứu trong quá trình hoạch định chính sách.
IMF đánh giá cao phản ứng chính sách hiệu quả của Việt Nam
Ông Krisha Srinivasan cho biết, IMF theo dõi rất sát các diễn biến kinh tế tại Việt Nam cũng như hơn 30 nền kinh tế trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Trong những năm gần đây, khu vực đã liên tiếp đối mặt với nhiều cú sốc lớn như đại dịch COVID-19, xung đột địa chính trị, chính sách thuế quan Hoa Kỳ và gần đây là biến động mạnh của giá năng lượng.
Tuy nhiên, các nền kinh tế châu Á đã cho thấy khả năng chống chịu đáng kể trước các cú sốc này. Đặc biệt, Việt Nam đạt được những kết quả tích cực về phát triển kinh tế xã hội. Tăng trưởng kinh tế của châu Á trong năm 2025 vượt kỳ vọng, tạo dư địa để ứng phó với các thách thức trong năm 2026.
Dù vậy, những cú sốc liên tiếp đang tạo áp lực ngày càng lớn đối với khu vực. Năm ngoái, các nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào thương mại quốc tế đã chịu tác động từ các biện pháp thuế quan của Mỹ. Năm nay, thách thức lớn đến từ giá năng lượng tăng mạnh.
Theo ông Krisha Srinivasan, việc sử dụng năng lượng của các nền kinh tế châu Á ở mức cao, tương đương khoảng 4,5% GDP, trong đó khoảng một nửa là năng lượng nhập khẩu. Điều này khiến khu vực đặc biệt nhạy cảm với các biến động của thị trường năng lượng toàn cầu.
Trước thách thức này, IMF khuyến nghị các quốc gia cần điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt nhưng luôn cảnh giác với rủi ro lạm phát. Bên cạnh đó, các biện pháp hỗ trợ tài khóa vẫn cần thiết nhưng nên mang tính tạm thời, có trọng tâm và hướng tới các nhóm dễ bị tổn thương nhất.
Đối với Việt Nam, IMF đánh giá cao những kết quả đạt được trong thời gian qua. Trong năm 2026, dù có tác động của các cú sốc bên ngoài, triển vọng của Việt Nam vẫn tích cực so với mặt bằng chung của khu vực.
IMF cũng ghi nhận các phản ứng chính sách hiệu quả của Việt Nam, đặc biệt trong việc bảo đảm nguồn cung xăng dầu, qua đó góp phần giảm thiểu tác động của biến động giá năng lượng.
IMF đánh giá cao định hướng phát triển dài hạn của Việt Nam, trong đó có mục tiêu duy trì tăng trưởng ở mức cao, hướng tới trở thành một trong 30 nền kinh tế có quy mô GDP lớn nhất thế giới vào năm 2030. Đặc biệt, IMF ghi nhận cam kết của Chính phủ Việt Nam về việc không đánh đổi ổn định kinh tế vĩ mô lấy tăng trưởng ngắn hạn.
Liên quan đến kế hoạch tăng đầu tư công trong trung và dài hạn, IMF cho rằng đây là định hướng tích cực. Tuy nhiên, việc mở rộng quy mô đầu tư công cần đi đôi với nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, bảo đảm khả năng huy động vốn và duy trì an toàn tài chính quốc gia.
Theo IMF, để huy động hiệu quả nguồn lực cho đầu tư phát triển, Việt Nam cần tiếp tục phát triển thị trường vốn và thị trường nợ theo chiều sâu. IMF sẵn sàng chia sẻ các nghiên cứu và hỗ trợ kỹ thuật liên quan đến phát triển thị trường tài chính, thị trường vốn.
Ông Krisha Srinivasan khẳng định IMF sẽ tiếp tục đồng hành và hỗ trợ Việt Nam trong quá trình phát triển khu vực tài chính, qua đó góp phần nâng cao khả năng chống chịu và thúc đẩy tăng trưởng bền vững trong những năm tới.

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng tiếp ông Krisha Srinivasan, Giám đốc khu vực châu Á – Thái Bình Dương của IMF - Ảnh: VGP/Đức Tuân
Không đánh đổi ổn định kinh tế vĩ mô lấy tăng trưởng ngắn hạn, thiếu bền vững
Ghi nhận những ý kiến của ông Krisha Srinivasan, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng đánh giá cao báo cáo của IMF và các khuyến nghị liên quan đến ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, sử dụng thận trọng dư địa chính sách tiền tệ, ưu tiên dư địa tài khóa, củng cố an toàn hệ thống tài chính ngân hàng và nâng cao khả năng chống chịu trước các cú sốc từ bên ngoài.
Về định hướng điều hành chính sách của năm 2026, Phó Thủ tướng cho biết, Chính phủ Việt Nam khẳng định mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên gắn với kiểm soát lạm phát và kiên định nguyên tắc không đánh đổi ổn định kinh tế vĩ mô và an toàn hệ thống tài chính ngân hàng để lấy tăng trưởng nóng trong ngắn hạn, thiếu tính bền vững, đồng thời ghi nhận những quan ngại của IMF về rủi ro lạm phát và biến động giá năng lượng toàn cầu.
Chính phủ Việt Nam đang triển khai đồng bộ các giải pháp để kiểm soát lạm phát kỳ vọng, ổn định thị trường tiền tệ - ngoại hối, giảm thiểu tác động lan tỏa tới doanh nghiệp và người dân. Chính phủ Việt Nam cũng định hướng điều hành tỉ giá linh hoạt, thúc đẩy thương mại, đầu tư, du lịch và nâng cao chất lượng dòng vốn để củng cố cán cân thanh toán quốc tế.
Phó Thủ tướng cho biết, Chính phủ nhận thức rõ những khó khăn, thách thức trong thời gian tới, như áp lực lạm phát đang gia tăng, tăng trưởng toàn cầu có xu hướng chậm lại và bảo hộ thương mại gia tăng và đặc biệt là biến động về địa chính trị và điều kiện tài chính quốc tế thắt chặt tiếp tục tạo áp lực mạnh mẽ lên xuất khẩu, tỷ giá và dòng vốn.
Phó Thủ tướng cho rằng, với mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên, Việt Nam xác định cần chuyển đổi mô hình tăng trưởng với 3 đòn bẩy trọng tâm là cải cách thể chế, hạ tầng chiến lược và phát triển kinh tế tư nhân.
Nói rõ hơn về các ưu tiên cải cách, Phó Thủ tướng nhấn mạnh, Việt Nam xác định cải cách thể chế là đòn bẩy quan trọng để giải phóng nguồn lực phát triển với trọng tâm là chuyển mạnh tư duy quản lý nhà nước từ tiền kiểm sang hậu kiểm, kiên quyết loại bỏ tư duy "không quản được thì cấm". Mục tiêu cụ thể là đưa môi trường kinh doanh của Việt Nam vào nhóm 3 nước đứng đầu ASEAN vào năm 2028. Đây là cam kết có đo lường và có trách nhiệm giải trình rõ ràng. Chính phủ Việt Nam cũng tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền thực chất gắn với cơ chế kiểm soát quyền lực và ứng dụng chuyển đổi số toàn diện trong quản lý nhà nước.
Ưu tiên cải cách thứ hai là khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Việt Nam xác định khoa học công nghệ đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chính là động lực tăng trưởng chủ đạo, không chỉ là hỗ trợ mà là lực lượng sản xuất trực tiếp.
Ưu tiên cải cách thứ ba là phát triển kinh tế tư nhân. Chính phủ xác định tập trung tháo gỡ triệt để các rào cản về thể chế, tiếp cận đất đai, tiếp cận nguồn vốn, công nghệ và nguồn nhân lực cho khối tư nhân. Ưu tiên tiếp theo cũng là vấn đề mà IMF rất là quan tâm, là hiện đại hóa hệ thống tài chính và thị trường vốn.
Chính phủ Việt Nam cũng xác định công tác hội nhập quốc tế tiếp tục được triển khai toàn diện, sâu rộng và thực chất. Phó Thủ tướng nêu rõ, hội nhập quốc tế là định hướng chiến lược lớn, triển khai đồng bộ trên tất cả các kênh với tất cả các quốc gia, vùng lãnh thổ và các tổ chức quốc tế.
Việt Nam chủ động tham gia định hình các cơ chế hợp tác đa phương tại khu vực và quốc tế để thực sự là một đối tác có trách nhiệm, đóng góp tích cực vào cấu trúc kinh tế và quản trị toàn cầu.
Phó Thủ tướng khẳng định, Chính phủ Việt Nam đánh giá cao quan hệ hợp tác thực chất và hiệu quả với IMF trong thời gian vừa qua, từ tham vấn chính sách, hỗ trợ kỹ thuật đến đào tạo năng lực, đã có những đóng góp rất thiết thực vào quá trình hoạch định cũng như điều hành chính sách kinh tế vĩ mô của Việt Nam. Phó Thủ tướng bày tỏ mong muốn IMF tiếp tục duy trì đối thoại chính sách thường xuyên với Chính phủ cũng như là các cơ quan trực thuộc Chính phủ, đặc biệt là Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính.
Đức Tuân