Người dân ngày càng đi metro nhiều hơn.
Thiếu hụt nhân lực
Theo dự báo của Sở Xây dựng TP Hồ Chí Minh, đến năm 2045, thành phố cần khoảng 17.000 nhân lực để vận hành và khai thác hệ thống metro khi mạng lưới hoàn chỉnh. Bình quân mỗi tuyến metro cần từ vài trăm đến hàng nghìn lao động kỹ thuật cao ở nhiều lĩnh vực như kỹ thuật hạ tầng, tín hiệu điều khiển, điện khí hóa, cơ khí đường sắt, công nghệ thông tin, dữ liệu và quản lý vận hành.
Tuy nhiên, thực tế nguồn nhân lực trong lĩnh vực đường sắt đô thị hiện còn rất hạn chế. Tuyến metro số 1 (Bến Thành - Suối Tiên) hiện chỉ có khoảng 500 nhân sự phục vụ vận hành. Đáng chú ý, ngay cả đội ngũ quản lý chuyên ngành cũng chưa đáp ứng yêu cầu khi có đơn vị quản lý đường sắt đô thị với khoảng 10 cán bộ nhưng chỉ một người được đào tạo đúng chuyên ngành.
Đại diện Ban Quản lý Đường sắt đô thị TP Hồ Chí Minh cho biết, khó khăn lớn nhất hiện nay không chỉ là thiếu nhân lực mà còn thiếu nhân lực có trình độ chuyên sâu về công nghệ đường sắt đô thị. Nhiều vị trí kỹ thuật cao như điều khiển tín hiệu, hệ thống điện, tự động hóa, an toàn vận hành phải đào tạo trong thời gian dài hoặc cần chuyên gia nước ngoài hỗ trợ. Điều này cho thấy việc chuẩn bị nguồn nhân lực cần được thực hiện từ sớm và theo chiến lược dài hạn.
TP Hồ Chí Minh tập trung đào tạo nhân lực cho ngành giao thông.
Thực trạng trên cho thấy khoảng trống lớn về nhân lực trong lĩnh vực đường sắt đô thị. Trong khi đó, metro là hệ thống giao thông hiện đại với yêu cầu kỹ thuật, an toàn và tiêu chuẩn vận hành rất cao. Nếu thiếu đội ngũ đủ năng lực, việc khai thác hệ thống sẽ gặp nhiều khó khăn, thậm chí ảnh hưởng đến an toàn vận hành.
Ông Trần Quang Lâm, Giám đốc Sở Xây dựng TP Hồ Chí Minh cho rằng, thành phố đang đầu tư rất lớn cho hệ thống metro, nhưng nếu không chuẩn bị nguồn nhân lực tương xứng thì hiệu quả khai thác sẽ bị hạn chế. Do đó, phát triển nguồn nhân lực phải đi trước một bước, song song với đầu tư hạ tầng, từ đào tạo kỹ sư, công nhân kỹ thuật đến đội ngũ quản lý, vận hành.
Theo ông Trần Quang Lâm, trong bối cảnh Việt Nam đang triển khai nhiều dự án đường sắt lớn như đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, các tuyến metro tại TP Hồ Chí Minh và Hà Nội, nhu cầu nhân lực ngành đường sắt sẽ tăng mạnh trong những năm tới. Không chỉ cần nhân lực vận hành, ngành còn cần đội ngũ kỹ sư, chuyên gia có khả năng tiếp nhận chuyển giao công nghệ, làm chủ thiết kế, thi công, bảo trì và quản lý hệ thống.
Liên kết đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp
Trước nhu cầu nhân lực lớn cho các dự án metro và đường sắt đô thị, nhiều trường đại học tại TP Hồ Chí Minh đã chủ động mở ngành đào tạo mới, đầu tư phòng thí nghiệm, hệ thống mô phỏng và tăng cường hợp tác quốc tế nhằm cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành đường sắt.
PGS.TS Nguyễn Xuân Phương, Hiệu trưởng Trường Đại học Giao thông vận tải TP Hồ Chí Minh cho biết, đào tạo nhân lực đường sắt đô thị và đường sắt tốc độ cao là chương trình trọng điểm của nhà trường trong giai đoạn tới. Chương trình được xây dựng theo hướng tích hợp nhiều lĩnh vực như hạ tầng, cơ khí, điện khí hóa, điều khiển tín hiệu và vận hành hệ thống. Nhà trường cũng đã đầu tư hệ thống phòng mô phỏng điều khiển và khai thác đường sắt hiện đại, giúp sinh viên tiếp cận môi trường vận hành thực tế.
Các sinh viên ngành metro cần được đào tạo bài bản để khi ra trường có việc làm.
Trong khi đó, TS Nguyễn Trung Nhân, Trưởng phòng đào tạo Trường Đại học Công nghiệp TP Hồ Chí Minh cho rằng, thách thức lớn nhất hiện nay không chỉ là số lượng mà còn là chất lượng nhân lực. Ngành đường sắt hiện đại đòi hỏi kỹ sư có kiến thức liên ngành, khả năng làm việc với công nghệ mới và đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế.
Theo TS Nguyễn Trung Nhân, một trong những hướng đi quan trọng là mô hình hợp tác “ba nhà”: Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp. Theo đó, cơ quan quản lý đặt hàng đào tạo theo nhu cầu thực tế, các trường xây dựng chương trình phù hợp, còn doanh nghiệp tham gia đào tạo thực hành và tiếp nhận sinh viên sau khi tốt nghiệp. Mô hình này giúp rút ngắn khoảng cách giữa đào tạo và thực tiễn, bảo đảm sinh viên ra trường có thể làm việc ngay tại các dự án metro và đường sắt đô thị.
Bên cạnh đó, nhiều chuyên gia cho rằng cần đẩy mạnh hình thức đào tạo gắn với thực tế tại công trường. Các dự án metro có thể trở thành “giảng đường mở”, nơi sinh viên và kỹ sư trẻ tham gia thực hành, tích lũy kinh nghiệm. Đây được xem là cách nhanh nhất để hình thành đội ngũ nhân lực có khả năng làm chủ công nghệ và xử lý các bài toán kỹ thuật phức tạp.
Ngoài ra, hợp tác quốc tế cũng đóng vai trò quan trọng trong đào tạo nguồn nhân lực metro. TP Hồ Chí Minh có thể liên kết với các quốc gia có hệ thống metro phát triển để sinh viên và kỹ sư tiếp cận công nghệ hiện đại, quy trình vận hành tiên tiến và tiêu chuẩn an toàn quốc tế.
Hiện nay, phát triển metro không chỉ dừng ở xây dựng hạ tầng mà còn gắn với xây dựng nguồn nhân lực và hệ sinh thái công nghiệp đường sắt. Khi làm chủ được công nghệ và nhân lực, Việt Nam không chỉ vận hành hệ thống metro hiệu quả mà còn có thể từng bước phát triển ngành công nghiệp đường sắt trong nước. Vì vậy, đào tạo nhân lực metro cần đi trước một bước, được chuẩn bị từ sớm và triển khai đồng bộ để đáp ứng yêu cầu phát triển giao thông đô thị trong dài hạn.