Để nước sạch chảy về bản

(Chinhphu.vn) - Tại xã Yên Phú, tỉnh Tuyên Quang, trên những sườn núi, dòng nước trong lành chảy theo những đường ống dẫn vào từng căn nhà nhỏ của đồng bào Mông.
Để nước sạch chảy về bản- Ảnh 1.

Mục tiêu cuối cùng không phải là xây được bao nhiêu công trình, mà là có bao nhiêu người dân thực sự có nước sạch mỗi ngày - Thiết kế ảnh: VGP

...Khung cảnh ấy có vẻ bình thường, nhưng với người dân nơi đây, đó từng là điều xa xỉ. Ngày trước muốn có nước dùng, người dân phải đi lấy từ khe suối, có khi đi cả quãng đường dài. Mùa khô thì càng vất vả. Từ năm 2021, Nhà nước hỗ trợ khoan giếng, kéo đường ống về tận nhà, cuộc sống thay đổi hẳn.

Một người dân thôn 1A Thống Nhất không giấu được niềm vui: "Mấy nhà dùng chung một giếng, nước nhiều và sạch. Hằng tháng chỉ góp tiền điện để bơm nước. Bây giờ không còn cảnh lo thiếu nước từng ngày nữa".

Còn tại xã Sủng Máng, những hồ treo được xây trên núi đá đã làm thay đổi cuộc sống của người dân thôn Há Pống Cáy. Anh Vàng Chá Hơu, người dân trong thôn chia sẻ, ngày trước có lúc phải địu can đi lấy nước cách cả chục cây số. Từ khi có hồ treo, nhà nào cũng có nước dùng, trẻ con sạch sẽ hơn, người lớn đỡ vất vả hơn.

Theo Trung tâm Nước sạch nông thôn, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Tuyên Quang, đến hết tháng 4/2026, tỷ lệ người dân nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh trên địa bàn đã đạt hơn 96%.

Để nước sạch chảy về bản- Ảnh 2.
Để nước sạch chảy về bản- Ảnh 3.

Ở thôn 1A Thống Nhất, xã Yên Phú (Tuyên Quang), cuộc sống của các hộ dân vẫn còn nhiều khó khăn, thiếu thốn - Ảnh: Yên Phú

Bài toán chưa có lời giải trọn vẹn

Nhưng nếu đi sâu hơn vào những bản làng cheo leo trên các sườn núi đá hay những khu vực thường xuyên khan hiếm nguồn nước, bức tranh lại chưa hoàn toàn sáng màu.

Đầu năm 2026, trong chuyến công tác trở lại Tuyên Quang (Hà Giang cũ) - địa bàn từng gắn bó nhiều năm trước đây, Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Nguyễn Đình Khang đã có những quan sát khiến nhiều người suy nghĩ.

"10 năm trước khi tôi công tác tại đây, tình trạng thiếu nước đã rất căng thẳng. Đến nay quay lại, tôi thấy vẫn chưa có chuyển biến mang tính đột phá. Như tại một trường nội trú vùng cao, nguồn nước sinh hoạt cho học sinh vẫn phải dẫn từ nơi cách đó khoảng 10km", Bộ trưởng chia sẻ.

Theo Bộ trưởng Nguyễn Đình Khang, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là "phên dậu" của Tổ quốc, có vai trò đặc biệt quan trọng về quốc phòng, an ninh và phát triển bền vững. Tuy nhiên, đây vẫn là khu vực tập trung nhiều khó khăn nhất cả nước, trong đó thiếu nước sinh hoạt là thách thức nổi bật.

Nhìn rộng ra toàn quốc, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong cấp nước nông thôn. Tỷ lệ hộ dân sử dụng nước hợp vệ sinh đạt gần 98%. Thế nhưng, nếu xét theo tiêu chuẩn nước sạch đạt quy chuẩn từ các công trình cấp nước tập trung, tỷ lệ mới chỉ trên 54% (khoảng 9 triệu hộ).

Đáng chú ý là khoảng cách giữa các vùng miền còn khá lớn. Trong khi nhiều địa phương ở Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ hay Đồng bằng sông Cửu Long đạt tỷ lệ cao, khu vực Trung du và miền núi phía Bắc mới chỉ khoảng 25%, Bắc Trung Bộ khoảng 35%, Duyên hải miền Trung và Tây Nguyên khoảng 34%.

Để nước sạch chảy về bản- Ảnh 4.
Để nước sạch chảy về bản- Ảnh 5.
Để nước sạch chảy về bản- Ảnh 6.

Cuối tháng 6/2026, Đoàn công tác của Bộ Dân tộc và Tôn giáo đi kiểm tra, khảo sát nhu cầu, giải pháp nước sạch tại vùng đồng bào DTTS&MN - Ảnh: Hưng Đạo

Nước sạch cho dân: Đừng chỉ đếm công trình

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cả nước hiện có hơn 17.500 công trình cấp nước tập trung nông thôn. Song chỉ khoảng 27% hoạt động bền vững, trên 27% hoạt động tương đối bền vững, gần 30% hoạt động kém hiệu quả và hơn 16% đã ngừng hoạt động. Nhiều công trình được xây dựng bằng nguồn vốn hỗ trợ nhưng sau đó thiếu đơn vị vận hành, thiếu kinh phí bảo trì hoặc không kiểm soát được chất lượng nguồn nước.

Từ nay đến năm 2030, theo tính toán sơ bộ của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nhu cầu đầu tư cho cấp nước sạch nông thôn cần trên 94 nghìn tỷ đồng. Đây là nguồn lực rất lớn, đòi hỏi cách tiếp cận bài bản và có trọng tâm.

Để nước sạch chảy về bản- Ảnh 7.

Ông Hà Việt Quân, Chánh Văn phòng Quốc gia về dân tộc và miền núi (Bộ Dân tộc và Tôn giáo) - Ảnh: VGP

Trao đổi về vấn đề này, ông Hà Việt Quân, Chánh Văn phòng Quốc gia về dân tộc và miền núi (Bộ Dân tộc và Tôn giáo) cho rằng, câu chuyện nước sạch không thể giải quyết bằng tư duy đầu tư dàn trải.

"Nhu cầu về nguồn lực lớn như vậy đòi hỏi đầu tư cho cấp nước sạch phải có trọng tâm, đầu tư theo lộ trình và xác định các mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn. Ưu tiên cần dành cho vùng dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo, vùng khan hiếm nước, vùng chịu tác động nặng của hạn hán, xâm nhập mặn và biến đổi khí hậu", ông Quân nhấn mạnh.

Mỗi vùng cần một lời giải riêng, ông Quân chia sẻ: "Ở trung du và miền núi phía Bắc, điều quan trọng là các công trình trữ nước, hệ thống dẫn nước tự chảy, cấp nước nhóm hộ, nâng cấp công trình hiện có và bảo vệ nguồn sinh thủy. Tây Nguyên hay duyên hải Nam Trung Bộ lại cần những giải pháp thích ứng hạn hán, bể trữ nước cộng đồng, khai thác nước dưới đất có kiểm soát. Còn Đồng bằng sông Cửu Long phải tập trung vào trữ nước ngọt mùa mưa và xử lý nước lợ, nước mặn".

Đầu tư công trình mới là bước khởi đầu. Điều quan trọng hơn là công trình ấy hoạt động như thế nào? Ai quản lý? Ai chịu trách nhiệm bảo trì? Ai kiểm tra chất lượng nước? Khi công trình hỏng thì ai xử lý? Nếu những câu hỏi ấy chưa có câu trả lời rõ ràng thì rất khó nói đến tính bền vững.

Trong hệ thống quản lý hiện nay, Bộ Xây dựng có vai trò trong hoàn thiện khung pháp lý chung về cấp nước, thoát nước, hạ tầng kỹ thuật, hoạt động kinh doanh nước sạch và bảo đảm cấp nước an toàn.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường có vai trò trực tiếp đối với cấp nước sạch nông thôn, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Lĩnh vực này gắn chặt với thủy lợi, nguồn nước, công trình trữ nước, hạn hán, xâm nhập mặn, bảo vệ nguồn sinh thủy và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Bộ Y tế giữ vai trò về quy chuẩn chất lượng nước dùng cho sinh hoạt.

Chính quyền địa phương thì chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện trên địa bàn, từ bố trí nguồn lực, giao đơn vị quản lý, kiểm tra vận hành đến theo dõi chất lượng nước và xử lý kịp thời khi công trình hư hỏng, hoặc người dân thiếu nước.

Theo ông Quân, giai đoạn 2026-2030 cần xây dựng cơ chế quản lý minh bạch hơn, giảm phân tán đầu mối và lấy người dân làm trung tâm. Kinh nghiệm triển khai chính sách công ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi cho thấy vai trò của chính quyền địa phương là then chốt.

Nước sạch là một dịch vụ công thiết yếu, người dân cần được bảo đảm quyền tiếp cận nước sạch ổn định, an toàn với chất lượng được kiểm soát thường xuyên. Mục tiêu cuối cùng không phải là xây được bao nhiêu công trình, mà là có bao nhiêu người dân thực sự có nước sạch mỗi ngày.

Ngày 12/5/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 19/CT-TTg về đẩy mạnh thực hiện Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Trong đó, Bộ Dân tộc và Tôn giáo được giao chủ trì, phối hợp với các cơ quan, địa phương theo dõi, đôn đốc, tổng hợp báo cáo hằng năm kết quả thực hiện Chiến lược công tác dân tộc; ưu tiên tập trung nguồn lực để thực hiện hiệu quả các chính sách dân tộc, giải quyết các vấn để cấp thiết như: đất ở, nhà ở, đất sản xuất, điện, nước sinh hoạt và hạ tầng xã hội thiết yếu để ổn định cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Sơn Hào

Tham khảo thêm
NGHỊ ĐỊNH SỐ 255/2025/NĐ-CP: Đầu tư 'trúng' từ nhận diện đúng khó khăn đặc thù (Bài 1)NGHỊ ĐỊNH SỐ 255/2025/NĐ-CP: Đầu tư 'trúng' từ nhận diện đúng khó khăn đặc thù (Bài 1)
Tham khảo thêm
Xóa 'lõi nghèo' vùng đồng bào DTTS và miền núi - Bài 1: Thu hẹp khoảng cách phát triểnXóa 'lõi nghèo' vùng đồng bào DTTS và miền núi -  Bài 1: Thu hẹp khoảng cách phát triển
Tham khảo thêm
Lấp ‘khoảng trống’ chính sách nhìn từ Nghị định 66/2025/NĐ-CP - Bài 1: Bổ sung chính sách cho trẻ em nhà trẻLấp ‘khoảng trống’ chính sách nhìn từ Nghị định 66/2025/NĐ-CP - Bài 1: Bổ sung chính sách cho trẻ em nhà trẻ
Tham khảo thêm
Cấp bách xây dựng trường nội trú cho học sinh DTTS - Bài 1: Chông chênh đường tới trườngCấp bách xây dựng trường nội trú cho học sinh DTTS - Bài 1: Chông chênh đường tới trường
Tham khảo thêm
Đánh giá đúng khó khăn, phân bổ hiệu quả: Nghị định 272/2025/NĐ-CP mở lối cho đầu tư vùng DTTS và miền núiĐánh giá đúng khó khăn, phân bổ hiệu quả: Nghị định 272/2025/NĐ-CP mở lối cho đầu tư vùng DTTS và miền núi